Sự hình thành mức cung tiền tệ:

30

Sự hình thành mức cung tiền tệ:

Việc cung ứng tiền vào lưu thông thường do ngân hàng trung ương đảm nhiệm. Hàng năm, trên cơ sở tính toán nhu cầu tiền trong lưu thông biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, tình hình ngân sách nhà nước và tình hình cán cân thanh toán quốc tế, ngân hàng trung ương sẽ lên kế hoạch cung ứng tiền vào lưu thông thông qua bốn kênh chủ yếu:

Phát hành qua thị trường mở: ngân hàng trung ương cung ứng tiền thông qua việc mua vào từ thị trường tiền tệ các chứng khoán ngắn hạn. Tuỳ theo ngân hàng trung ương mua chứng khoán từ các ngân hàng hay các chủ thể kinh tế phi ngân hàng mà dự trữ của các ngân hàng hay tiền mặt trong lưu thông sẽ tăng lên.

Phát hành qua thị trường vàng và ngoại tệ: ngân hàng trung ương cung ứng tiền thông qua hành vi mua vàng hoặc ngoại tệ cho dự trữ quốc gia (National reserves). Lượng tiền cung ứng vào lưu thông cũng sẽ tăng lên trực tiếp hoặc gián tiếp qua các ngân hàng trung gian như trường hợp phát hành qua thị trường mở.

Phát hành qua các ngân hàng trung gian: ngân hàng trung ương cung ứng tiền thông qua hành vi cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian, làm tăng dự trữ của các ngân hàng này, qua đó tạo điều kiện cho các ngân hàng tăng qui mô cho vay khiến lượng tiền đưa vào lưu thông tăng thêm. Như vậy NHTƯ đã cung ứng tiền ra lưu thông gián tiếp qua các ngân hàng trung gian. Lượng tiền này có thể dưới dạng tiền mặt hoặc tiền tín dụng tuỳ theo các ngân hàng trung gian cho vay dưới dạng tiền mặt hay chuyển khoản. Ngân hàng trung ương cho các ngân hàng trung gian vay chủ yếu dưới hai hình thức: chiết khấu hay tái chiết khấu các giấy tờ có giá ngắn hạn và thế chấp hay ứng trước.

Phát hành qua chính phủ: ngân hàng trung ương cũng sẽ làm cho lượng tiền tăng lên qua hành vi cho ngân sách nhà nước vay. Ngân hàng trung ương có thể cho vay trực tiếp hoặc thông qua việc mua lại các chứng khoán chính phủ do kho bạc phát hành.

Qua các kênh trên, ngân hàng trung ương sẽ trực tiếp cung cấp một lượng tiền giấy và tiền kim khí vào lưu thông, còn được gọi là tiền cơ sở hay cơ số tiền (ký hiệu là MB – Monetary base). Trong quá trình lưu thông, một phần lượng tiền này được giữ trong tay các chủ thể kinh tế (phi ngân hàng) – gọi là tiền mặt lưu hành (ký hiệu C – cash), một phần nằm tại các ngân hàng dưới dạng tiền dự trữ – gọi là tiền dự trữ trong các ngân hàng (ký hiệu R – Reserves). Như vậy, cơ số tiền MB = C + R. Bộ phận tiền dự trữ của các ngân hàng chia làm hai bộ phận nhỏ hơn là dự trữ bắt buộc (ký hiệu RR – Required reserves) – là bộ phận tiền giấy mà các ngân hàng phải giữ lại theo yêu cầu của ngân hàng trung ương và dự trữ vượt mức (ký hiệu ER – Excess reserves) – là bộ phận tiền giấy do các ngân hàng tự ý giữ lại ngoài mức dự trữ theo yêu cầu, được xem như là thành phần nhàn rỗi của tiền dự trữ . Qua hệ thống ngân hàng, bộ phận tiền dự trữ R có thể được nhân lên thành lượng tiền tín dụng hay tiền gửi (ký hiệu D – Deposit) lớn hơn nhiều lần thông qua cơ chế tạo tiền của hệ thống các ngân hàng trung gian.

Do tiền dự trữ không tham gia vào thanh toán nên tổng lượng tiền cung ứng vào lưu thông sẽ là: MS = C + D. Do cơ chế nhân tiền của hệ thống ngân hàng nên lượng tiền cung ứng vào lưu thông MS lớn hơn lượng tiền giấy in ra nhiều lần. Tỷ số giữa mức cung tiền và lượng tiền cơ sở gọi là số nhân tiền tệ (Money multiplier):

m = MS / MB

Từ đó ta suy ra: MS = m × MB

Như vậy, mức cung tiền tệ trong nền kinh tế sẽ phụ thuộc vào 2 yếu tố chính là cơ số tiền và số nhân tiền tệ. Số nhân tiền tệ lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ quá mức tại các ngân hàng trung gian, tỷ lệ giữ tiền mặt trong lưu thông so với tiền gửi không kỳ hạn.

Vấn đề điều tiết cung ứng tiền của ngân hàng trung ương luôn có quan hệ hữu cơ với điều tiết kinh tế nhằm đạt được mục tiêu kinh tế của chính sách tiền tệ quốc gia trong từng giai đoạn. 

Nguồn: Ths. Đặng Thị Việt Đức – Ths. Phan Anh Tuấn (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)